Không phải là những bức đại tự hay sập gụ đắt đỏ, di sản nghìn năm của làng Chuôn Ngọ giờ đây hiện diện trên mái tóc, vạt áo của những người trẻ hiện đại.
Là người con của làng nghề Chuôn Ngọ, Nguyễn Thị Minh Châu luôn đinh ninh những món đồ khảm trai là một phần hiển nhiên của cuộc sống. Mặt gỗ óng ánh xà cừ, hoa văn tỉ mỉ và hình ảnh người bà khéo léo dùng mũi dao tách những mảnh trai đã lớn lên cùng Châu như thế.
Minh Châu, người sáng lập cửa hàng thủ công mỹ nghệ Mun Artisan, chia sẻ tinh thần: Đưa sản phẩm nghề Chuôn Ngọ trở lại theo cách đa dụng hơn, đương đại hơn. Ảnh: Phương Linh.
Chỉ đến khi bước chân vào giảng đường đại học, Minh Châu mới nhận ra một điều ngược lại: với nhiều người cùng thế hệ, khảm trai là một khái niệm xa lạ. Một nghề đã tồn tại cả nghìn năm, từng là niềm tự hào của làng nghề, lại đang lùi về phía sau nhịp sống vội vàng.
Nếu cứ thế này thì nghề có dần bị lãng quên không? Chính nỗi trăn trở này đã khai sinh ra “Mun” - một thương hiệu nhỏ với mong muốn mang di sản của làng mình đến gần người trẻ. Xưởng sản xuất của Mun gắn liền với đôi bàn tay của những người thợ lành nghề tại quê nhà Chuôn Ngọ. Châu làm thiết kế. Ba người bạn còn lại lo marketing, vận hành. Không cửa hàng, không showroom, mọi thứ bắt đầu từ Instagram, TikTok - những nền tảng trực tuyến hàng đầu.
“Chúng mình không nghĩ đang làm điều gì quá lớn, chỉ muốn thử xem liệu khảm trai có thể quay lại đời sống theo một cách gần gũi hơn hay không”, Châu nói.
Trong nghề khảm trai, nhiều người nghĩ cái khó nằm ở kỹ thuật. Nhưng với Châu, điều khó nhất lại là thiết kế và vẽ mẫu. “Đó là bước đầu tiên để tạo ra cái hồn của sản phẩm”, Minh Châu chia sẻ. “Mình không đi theo lối hoa văn cổ điển quen thuộc, mà lấy cảm hứng từ thơ ca Việt Nam, rồi kể lại bằng những hình thức rất mới. Một chiếc trâm cài, một chiếc kẹp tóc, một chiếc charm túi… nhỏ thôi, nhưng đủ để đi cùng người dùng trong những ngày rất bình thường”.
Bà của Châu, Nghệ nhân Lê Thị Vui, từng gắn bó cả đời với khảm trai, không giấu được sự băn khoăn khi cháu gái bắt đầu con đường này. “Nghề này cực lắm, lại kén khách. Bà chỉ sợ cháu vất vả”, Châu thuật lại. Nhưng cũng chính bà, bằng cách này hay cách khác, lại là người truyền cho Châu niềm tin rằng khảm trai Chuôn Ngọ là nghề xứng đáng để tiếp tục, trao truyền.
Những chất liệu được sử dụng trong sản phẩm khảm trai của Mun Artisan. Ảnh: Minh Châu.
Với những sản phẩm khảm trai truyền thống quy mô lớn, người thợ thường sử dụng các loại gỗ quý như gỗ mun, gỗ đục, kết hợp với trai, xà cừ nhập ngoại, vì thế giá trị có thể lên tới vài chục triệu, thậm chí hàng trăm triệu đồng tùy theo độ tinh xảo.
Theo Châu, dù là một chiếc trâm cài nhỏ xíu, nếu làm liên tục, cũng mất từ hai đến ba tuần để hoàn thành. Từng công đoạn nối tiếp nhau: đục, khảm, mài… có khi lên đến vài chục bước, đòi hỏi sự tỉ mỉ gần như tuyệt đối.
Bên cạnh đó là sự vênh lệch giữa tư duy thiết kế mới và thói quen làm nghề cũ. Những người thợ lâu năm vốn điêu luyện với hoa văn, kỹ thuật truyền thống, nay phải 'làm mới' đôi tay của mình, quen với những chi tiết siêu nhỏ và những đường nét tối giản phong cách Gen Z.
“Càng nhỏ thì càng khó. Có những miếng trai còn chưa bằng móng tay. Chưa kể, mỗi miếng trai là một cá thể riêng, không cái nào giống cái nào. Điều đó tạo nên sự độc bản, nhưng cũng đồng nghĩa với việc không thể có một sản phẩm hoàn hảo tuyệt đối theo kiểu công nghiệp. Nhiều khách sẽ để ý những chi tiết rất nhỏ, nhưng đó là đặc trưng của vật liệu tự nhiên, mình không thể ép nó giống nhau 100% được”, Châu giải thích.
Để giữ được mức giá hợp lý, Mun Artisan cân bằng giữa rất nhiều yếu tố: chất liệu, công thợ, thời gian. Nhóm tự làm mọi thứ, từ lên ý tưởng, công đoạn chụp ảnh đến nội dung quảng bá. Ảnh: Mun Artisan.
“Mình nhìn chất liệu như một bảng màu, không phải câu chuyện tiền bạc. Quan trọng là phối sao cho đẹp nhất”, Châu nói. Tuy vậy, bài toán chi phí luôn phải được cân nhắc kỹ. Chỉ cần thay một chi tiết nhỏ bằng ốc quý, giá thành sản phẩm có thể tăng gấp nhiều lần. Vì vậy, nhóm lựa chọn cân bằng giữa thẩm mỹ và giá cả, giữ mức giá trong khoảng 100.000-300.000 đồng để người trẻ có thể sở hữu.
Sau những bước đi đầu tiên, những sản phẩm của Mun dần có độ nhận diện cao hơn. Khách hàng tìm đến Mun không chỉ vì sự độc đáo mà còn vì độ bền đáng kinh ngạc. Châu kể, có khách hàng từng phản hồi chiếc trâm cài “bị bánh xe đè qua mà vẫn không hỏng”. Chính chi tiết này đã chứng minh cho độ bền đặc trưng của gỗ tự nhiên và kỹ thuật khảm truyền thống.
Hiện tại, lượng khách quen của Mun đang tăng ổn định. Từ những chiếc trâm ban đầu, nhóm đang mở rộng sang gương, khung ảnh và các món đồ trang trí văn phòng.
“Sẽ ra sao nếu khảm trai Chuôn Ngọ không còn xuất hiện trong đời sống?” - Châu tự vấn. Là thế hệ mới, cô khát khao “Đưa nghề Chuôn Ngọ trở lại theo cách đa dụng hơn, đương đại hơn, vươn xa hơn”. Không chạy theo số lượng hay những sản phẩm cầu kì, to tát, cô gái Nguyễn Minh Châu và các bạn trẻ đang thổi sinh khí để di sản sống lại qua những món đồ thường ngày. Và có lẽ, chính từ những điều nhỏ bé ấy, một làng nghề đang được giữ lại - không phải trong hoài niệm, mà trong chính đời sống hôm nay.
Làng Chuôn Ngọ (xã Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên cũ, nay là xã Chuyên Mỹ, TP. Hà Nội) từ lâu đã được biết đến như cái nôi của nghề khảm trai truyền thống, với lịch sử hình thành từ thế kỷ XI. Qua bàn tay khéo léo của người thợ, những mảnh vỏ trai, vỏ ốc thô mộc được cắt gọt, mài giũa và khảm lên nền gỗ, tạo nên những hình ảnh sống động, tinh xảo, lấp lánh sắc xà cừ như ánh cầu vồng.
Nguyên liệu khảm trai ở Chuyên Mỹ đặc biệt phong phú, không chỉ đến từ nguồn trong nước mà còn được nhập từ Hồng Kông, Singapore, Indonesia… Với nhiều loại như trai cánh, trai thịt, trai ngọc hay ốc đỏ quý hiếm, các nghệ nhân dùng để thể hiện những chi tiết cầu kỳ như núi non, cánh phượng, cánh rồng. Điểm khác biệt của khảm trai Chuôn Ngọ nằm ở kỹ thuật xử lý: từng mảnh trai được giữ nguyên, phẳng, không vỡ, gắn khít vào gỗ một cách tinh tế, tạo nên giá trị thẩm mỹ và độ bền vượt trội.
Một trong những người giữ lửa cho làng là bà của Nguyễn Thị Minh Châu - Nghệ nhân Nguyễn Thị Vui, Chủ nhiệm Hợp tác xã sơn khảm Ngọ Hạ. Trước nguy cơ mai một làng nghề, bà đã mở hàng chục lớp dạy nghề, đặc biệt là cho trẻ em khuyết tật từ năm 1994, giúp các em có cơ hội hòa nhập và mưu sinh. Tính đến nay, bà đã truyền nghề cho gần 2.500 học viên khuyết tật, đồng thời tạo công ăn việc làm cho hơn 1.000 lao động địa phương.
| # | Наименование новости | Тональность | Информативность | Дата публикации |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Tái sinh nghề truyền thống: [Bài 4] Phỏng dựng cổ phục Việt | 0 | 5 | 05-07-2026 |
| 2 | Tái sinh nghề truyền thống: [Bài cuối] Tương lai làng nghề kỳ vọng ở thế hệ trẻ | 5 | 7 | 06-07-2026 |
| 3 | Tái sinh nghề truyền thống: [Bài 1] Lối đi nào cho làng nghề Việt? | 0 | 5 | 02-07-2026 |
| 4 | Giải bơi chải gần 600 năm ở Sơn Động hút hàng nghìn du khách | 5 | 7 | 29-05-2026 |
| 5 | Đánh thức tiềm năng di sản văn hóa Chăm trong dòng chảy phát triển mới | 5 | 7 | 27-06-2026 |
| 6 | Sắp xếp thôn, làng: Bảo tồn bản sắc! | 5 | 7 | 09-06-2026 |
| 7 | Tái sinh nghề truyền thống: [Bài 2] Khi bông sen nở từ giấy nhún | 3 | 7 | 03-07-2026 |
| 8 | Bản giao hưởng của di sản địa chất và thiên nhiên | 5 | 7 | 30-06-2026 |
| 9 | Tháp Bà Pô Nagar chuyển mình trong hành trình số hóa di sản Chăm | 5 | 7 | 24-06-2026 |
| 10 | Chạm bản sắc Ca-dong nơi đại ngàn: [Bài 2] Chiêng ngân vang núi rừng | 5 | 7 | 29-06-2026 |