Вход на сайт

Просмотр новости

Найдите то, что Вас интересует

Muốn bán các-bon rừng, trước hết phải đo được lượng hấp thụ

Дата публикации: 17-08-2026 09:13:26

Đây là một trong những kinh nghiệm quan trọng được rút ra từ quá trình triển khai chuyển nhượng kết quả giảm phát thải rừng tại Việt Nam.

Основное содержимое страницы с новостью.

Thị trường các-bon rừng đang mở ra cơ hội tạo thêm nguồn thu từ tài nguyên rừng, nhưng theo ông Phạm Hồng Lượng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), điều kiện tiên quyết không phải là có bao nhiêu diện tích rừng, mà là đo đếm và chứng minh được rừng đã hấp thụ hoặc giảm phát thải bao nhiêu các-bon.

Ông Phạm Hồng Lượng cho rằng, muốn bán carbon rừng, trước hết phải đo được lượng hấp thụ. Ảnh: Hồng Thủy.

Ông Phạm Hồng Lượng cho rằng, muốn bán carbon rừng, trước hết phải đo được lượng hấp thụ. Ảnh: Hồng Thủy.

Từ 16,2 triệu tấn CO₂ đến 56,5 triệu USD từ rừng

Chia sẻ tại Diễn đàn Các-bon Việt Nam 2026: "Từ chính sách đến hành động" diễn ra ngày 14/8, ông Phạm Hồng Lượng cho biết, lâm nghiệp có lợi thế lớn khi Việt Nam đã duy trì trong thời gian dài hệ thống điều tra, kiểm kê, theo dõi và công bố hiện trạng, diễn biến rừng. Đây là nền tảng dữ liệu quan trọng để tính toán lượng giảm phát thải, sau đó đưa kết quả đi thẩm định, xác minh.

Kết quả từ Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ là một minh chứng rõ nét. Trong kỳ báo cáo đầu tiên, Việt Nam đã chứng minh và được Ngân hàng Thế giới (WB) công nhận 16,2 triệu tấn CO₂ giảm phát thải. Từ kết quả này, Việt Nam thực hiện hai lần chuyển nhượng tổng cộng 11,3 triệu tấn, thu về 56,5 triệu USD.

Những con số trên cho thấy, diện tích rừng lớn hay tiềm năng hấp thụ các-bon cao mới chỉ là điểm xuất phát. Muốn biến lợi thế đó thành giá trị tài chính, lượng hấp thụ hoặc giảm phát thải phải được lượng hóa bằng phương pháp phù hợp, có dữ liệu theo dõi và trải qua quá trình thẩm định, xác minh.

“Muốn bán được các-bon thì trước hết phải chứng minh được mình có bao nhiêu các-bon”, có thể xem đây là nguyên tắc cốt lõi của thị trường các-bon rừng.

Tuy nhiên, đo đếm được các-bon mới chỉ giải quyết một phần bài toán. Theo ông Lượng, một điều kiện quan trọng khác là cơ chế chia sẻ lợi ích.

Diện tích rừng lớn hay tiềm năng hấp thụ các-bon cao mới chỉ là điểm xuất phát. Ảnh: NNMT.

Diện tích rừng lớn hay tiềm năng hấp thụ các-bon cao mới chỉ là điểm xuất phát. Ảnh: NNMT.

Kinh nghiệm từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã được sử dụng để thiết kế cơ chế phân bổ nguồn thu các-bon. Tại chương trình Bắc Trung Bộ, Trung ương giữ 3,5% phục vụ quản lý, cấp tỉnh giữ 10%, phần còn lại được chi trả cho chủ rừng và các đối tượng hưởng lợi.

Việc quy định rõ tỷ lệ phân bổ ngay từ đầu giúp dòng tiền được giải ngân minh bạch, kịp thời. Nguồn thu từ chương trình đã được chi trả cho khoảng 80.000 chủ rừng, trong đó có khoảng 40.000 hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng.

Kinh nghiệm này càng có ý nghĩa khi khung pháp lý về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon rừng đang được hoàn thiện. Nghị định 180/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/7 đặt ra yêu cầu các địa phương chuẩn bị dữ liệu, đánh giá hiện trạng và tiềm năng hấp thụ các-bon của rừng.

Mọi chủ rừng đều có thể tham gia dự án các-bon

Một vấn đề được nhiều chủ rừng quan tâm là ai có quyền tham gia thị trường các-bon.

Theo ông Phạm Hồng Lượng, Điều 7 Luật Lâm nghiệp đã quy định khá rõ các loại chủ rừng. Đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, trong đó có rừng do các ban quản lý rừng quốc gia, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng quản lý. Trong khi đó, rừng giao cho hộ gia đình, cá nhân chủ yếu là rừng sản xuất.

Các loại chủ rừng đều có thể hợp tác, liên kết để thực hiện dự án liên quan đến carbon. Ảnh: NNMT.

Các loại chủ rừng đều có thể hợp tác, liên kết để thực hiện dự án liên quan đến carbon. Ảnh: NNMT.

Theo Nghị định 58/2024/NĐ-CP, các loại chủ rừng đều có thể hợp tác, liên kết để thực hiện dự án liên quan đến các-bon. Điểm khác nhau nằm ở hình thức hợp tác tùy theo chủ thể sở hữu và quản lý rừng.

Với rừng do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, việc hợp tác, liên kết phải tuân thủ các quy định về hợp tác công - tư, bảo đảm công khai, minh bạch và có cơ chế thống nhất. Điều này nhằm hạn chế tình trạng các bên tự thỏa thuận thiếu căn cứ, gây khó khăn cho việc chứng minh tính minh bạch của dự án.

Với rừng thuộc sở hữu tư nhân, các bên có thể chủ động thỏa thuận về hình thức hợp tác, liên kết nhưng vẫn phải tuân thủ pháp luật. Dù thuộc loại hình sở hữu nào, dự án các-bon vẫn phải thực hiện đăng ký theo quy định. Nếu có chuyển giao tín chỉ các-bon ra quốc tế, dự án phải đồng thời đáp ứng các quy định liên quan.

Có thể liên kết doanh nghiệp làm dự án các-bon cấp tỉnh

Một hướng đi khác đang được quan tâm là doanh nghiệp phối hợp với cơ quan chuyên môn và UBND cấp tỉnh triển khai dự án các-bon rừng trên phạm vi rộng.

Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm cho rằng, Nghị định 180 đã quy định việc chủ rừng có thể hợp tác, liên kết với nhà đầu tư hoặc đơn vị trung gian để xây dựng, đăng ký, thẩm định và công nhận tín chỉ các-bon rừng.

Trường hợp chủ rừng là các tổ chức Nhà nước, việc hợp tác với doanh nghiệp có thể được xem xét theo cơ chế đối tác công - tư (PPP) và phải tuân thủ các quy định pháp luật liên quan.

Đối với dự án các-bon rừng trong nước, quy trình đăng ký, thẩm định và công nhận được quy định cụ thể. Với dự án có chuyển giao quốc tế, việc thực hiện phải tuân thủ các quy định tại Nghị định 12.

Cùng với đó, cơ quan quản lý đã ban hành Thông tư 31 về phương pháp định giá tín chỉ các-bon rừng; Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đã công bố tiêu chuẩn quốc gia về các-bon rừng.

“Doanh nghiệp, địa phương nghiên cứu kỹ các quy định này cùng hệ thống văn bản liên quan thì hoàn toàn có cơ sở để triển khai các dự án các-bon rừng”, ông Lượng nhấn mạnh.

Như vậy, bài toán hiện nay không còn chỉ là “rừng có hấp thụ được các-bon hay không”, mà chuyển sang câu hỏi đo thế nào, chứng minh ra sao, ai được hưởng lợi và tổ chức dự án như thế nào.

Nếu chỉ nhìn vào doanh thu từ bán tín chỉ, giá trị của các-bon rừng có thể chưa phản ánh đầy đủ lợi ích mà nó mang lại cho doanh nghiệp.

Ông Nguyễn Ngọc Tùng, CFA, Quỹ VinaCarbon (VinaCapital), cho rằng doanh nghiệp không nên chỉ đặt câu hỏi một dự án có thể bán được bao nhiêu tín chỉ và thu về bao nhiêu tiền. Quan trọng hơn là nhìn nghĩa vụ môi trường như một cơ hội tạo ra tài sản có giá trị cả về kinh tế và môi trường.

Theo ông Tùng, khi doanh nghiệp chứng minh rõ năng lực quản trị carbon và kết quả môi trường, nhà đầu tư có thêm cơ sở để đánh giá rủi ro. Ảnh: Hồng Thủy.

Theo ông Tùng, khi doanh nghiệp chứng minh rõ năng lực quản trị carbon và kết quả môi trường, nhà đầu tư có thêm cơ sở để đánh giá rủi ro. Ảnh: Hồng Thủy.

Theo ông Tùng, khi doanh nghiệp xây dựng được hệ thống và quy trình giảm phát thải, kết quả giảm phát thải phải có khả năng đo đếm, kiểm chứng và chứng minh minh bạch. Đây chính là yếu tố được các nhà đầu tư quốc tế quan tâm.

Khi doanh nghiệp có thể chứng minh rõ năng lực quản trị carbon và kết quả môi trường, nhà đầu tư có thêm cơ sở để đánh giá rủi ro. Từ đó, doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn vốn với chi phí thấp hơn, kỳ hạn dài hơn và mở rộng cơ hội đầu tư.

Đây là lợi ích gián tiếp khó quy đổi ngay thành tiền nhưng trong dài hạn có thể lớn hơn khoản doanh thu trực tiếp từ bán tín chỉ các-bon.

Cách tiếp cận này cũng làm thay đổi bài toán đầu tư. Thay vì chỉ tính một dự án giảm phát thải tạo ra bao nhiêu tín chỉ và bán với giá nào, doanh nghiệp có thể tính đến giá trị tổng thể của năng lực quản trị các-bon.

Một hệ thống có khả năng xác định nghĩa vụ môi trường, đo lường kết quả giảm phát thải và chứng minh những kết quả đó không chỉ phục vụ giao dịch các-bon. Nó còn góp phần nâng cao uy tín, củng cố thương hiệu và tạo thêm lợi thế khi doanh nghiệp tiếp cận các dòng vốn xanh.

Vì vậy, tín chỉ các-bon không nên chỉ được nhìn như một sản phẩm để bán. Giá trị lớn hơn nằm ở việc biến kết quả giảm phát thải thành bằng chứng về năng lực môi trường của doanh nghiệp và chủ rừng.

Từ câu chuyện Bắc Trung Bộ, bài học đang dần rõ hơn: rừng muốn tạo ra giá trị carbon phải có dữ liệu; các-bon muốn trở thành tài sản phải được đo đếm và xác minh; còn nguồn thu các-bon muốn bền vững phải đi cùng cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch.

Đây cũng là nền tảng để Việt Nam chuyển từ khai thác tiềm năng hấp thụ các-bon của rừng sang xây dựng một thị trường các-bon rừng có giá trị thực, minh bạch và tạo lợi ích lâu dài cho cả chủ rừng, địa phương và doanh nghiệp.

Схожие новости

#Наименование новостиТональностьИнформативностьДата публикации
1Giảm dần hạn ngạch nhập khẩu môi chất lạnh không thân thiện môi trường012.5617-08-2026
2Môi chất lạnh tái chế - bước đệm chuyển đổi cho ngành lạnh012.1116-08-2026
3Thái Nguyên cấp mới hơn 7.600 ha rừng đạt chứng chỉ FSC014.5717-08-2026
4Phê duyệt thỏa thuận thực hiện trao đổi kết quả giảm phát thải với Singapore09.9517-08-2026
5Ngành thủy sản trước sức ép gián tiếp từ luật chống phá rừng EU09.2317-08-2026
6TP.HCM thúc đẩy chuyển đổi xanh, hướng tới Net Zero013.3517-08-2026
7Việt Nam tích cực đóng góp tại COP17 về chống sa mạc hóa014.9517-08-2026
8Cắt giảm giấy phép cho thuê lại lao động: Giảm thủ tục, tăng trách nhiệm04.6205-08-2026
9Không để trái sầu riêng ‘đi một mình’012.3516-08-2026
10Hướng tới xuất khẩu ngành Nông nghiệp đạt 100 tỷ USD: Giảm dấu chân carbon ngành cao su để tăng giá trị06.3315-08-2026

Классификация: . Схожих патентов: 0. Схожих новостей: 10. Тональность: 0. Информативность: 13.61. Источник: nongnghiep.vn.