Từ năm 2020, HTX chè Thủy Thuật chuyển sang canh tác hữu cơ, hướng tới sản phẩm sạch, bảo vệ đất, nước và sức khỏe người sản xuất, tiêu dùng.
LTS: Xã Đại Phúc (tỉnh Thái Nguyên) được thành lập trên cơ sở sáp nhập 5 xã, thị trấn gồm: Phúc Xuân, Phúc Trìu (thuộc thành phố Thái Nguyên cũ); thị trấn Hùng Sơn, xã Tân Thái (thuộc huyện Đại Từ cũ) và xã Phúc Tân (thuộc thành phố Phổ Yên cũ).
Tên gọi Đại Phúc mang hàm ý là vùng đất phúc lớn, đang mở ra một chặng đường phát triển với nhiều tiềm năng về cây chè, du lịch sinh thái và nguồn lực cộng đồng - những giá trị sẵn có đang được đánh thức, tạo thêm động lực cho vùng quê giàu truyền thống này.
Tuyến bài “Chuyện ghi ở Đại Phúc” trên Báo Nông nghiệp và Môi trường là những câu chuyện về đánh thức tiềm năng du lịch, nâng tầm giá trị cây chè và sức dân chung tay mở đường... Những lát cắt cho thấy khi tiềm năng được khơi dậy, lòng dân đồng thuận, quê hương Đại Phúc sẽ có thêm sức bật để phát triển.
Nắm bắt xu hướng tiêu dùng sản phẩm xanh, sạch, đồng thời hướng tới sản xuất an toàn cho người dân và môi trường, HTX chè Thủy Thuật, xóm Phúc Trìu, xã Đại Phúc (Thái Nguyên) từng bước chuyển đổi diện tích chè từ VietGAP sang canh tác hữu cơ.
Từ năm 2020, HTX chè Thủy Thuật bắt đầu chuyển hướng sang sản xuất chè hữu cơ. Đây không chỉ là sự thay đổi về quy trình chăm sóc cây chè mà còn là bước chuyển trong tư duy sản xuất, khi người làm chè đặt sức khỏe của người tiêu dùng và người sản xuất cũng như sự bền vững của đất đai lên hàng đầu.
Ông Ngô Viết Thuật, Giám đốc HTX chè Thủy Thuật. Ảnh: Quang Linh.
Ông Ngô Viết Thuật, Giám đốc HTX chè Thủy Thuật, cho biết HTX được thành lập tháng 6/2017 với 15 thành viên, ban đầu tập trung sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGAP. Trong quá trình sản xuất, nhận thấy nhu cầu ngày càng tăng đối với những sản phẩm an toàn, thân thiện với môi trường, HTX từng bước thay đổi phương thức canh tác.
Hiện HTX có 15 ha chè sản xuất theo hướng an toàn, trong đó 5 ha đã đạt tiêu chuẩn hữu cơ. Toàn bộ diện tích chè của HTX được thay đổi quy trình chăm sóc, từ bón phân, tưới nước đến phòng trừ sâu bệnh và chế biến sản phẩm.
Điểm khác biệt trong cách làm của HTX là nói không với phân bón vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật. Trong quá trình chế biến, sản phẩm cũng không sử dụng bất kỳ chất tạo màu, tạo hương hay tạo vị nào.
Nuôi đất, dưỡng cây bằng phương pháp tự nhiênTheo ông Thuật, để cây chè phát triển theo hướng hữu cơ, việc chăm sóc không thể dựa vào những giải pháp nhanh chóng mà phải bắt đầu từ việc cải tạo và duy trì độ phì của đất.
HTX sử dụng các chế phẩm vi sinh, đồng thời tự ủ phân từ đỗ tương, đạm cá để bổ sung dinh dưỡng cho cây. Với sâu bệnh, thay vì sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học, người dân sử dụng một số chế phẩm có nguồn gốc tự nhiên, trong đó có các loại chế phẩm xua đuổi sâu bọ từ tỏi, ớt.
Cách làm này đòi hỏi người sản xuất phải dành nhiều công sức hơn cho đồng chè. Mỗi khâu chăm sóc đều phải được theo dõi kỹ, từ tình trạng đất, nguồn nước đến sự phát triển của cây và diễn biến sâu bệnh.
“Làm chè hữu cơ trước hết là giữ được nguồn đất, nguồn nước để sử dụng lâu dài. Người sản xuất được bảo vệ sức khỏe, người dân sống trong khu vực cũng được hưởng môi trường an toàn hơn”, ông Thuật chia sẻ.
Đối với cây chè, đất không chỉ là nơi cung cấp dinh dưỡng mà còn là nền tảng quyết định chất lượng búp chè. Khi giảm và tiến tới loại bỏ hoàn toàn phân bón vô cơ, thuốc bảo vệ thực vật hóa học, người sản xuất phải chú trọng hơn đến hệ sinh thái trong nương chè, từ đó duy trì sự cân bằng tự nhiên.
Đây cũng là lý do HTX xác định sản xuất hữu cơ không đơn thuần là tạo ra một sản phẩm có giá bán cao hơn, mà phải tạo dựng một hệ thống sản xuất có khả năng duy trì trong thời gian dài.
Với diện tích sản xuất hiện nay, năng suất chè của HTX đạt khoảng 15-16kg chè khô/sào Bắc Bộ (tương đương 360 m²). Đây là mức sản lượng được duy trì trong điều kiện HTX không sử dụng phân bón vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật hóa học.
Vùng chè HTX chè Thủy Thuật. Ảnh: Quang Linh.
Từ vùng chè an toàn đến niềm tin người tiêu dùngÔng Thuật cho rằng, một sản phẩm chè muốn giữ chân khách hàng không chỉ cần ngon mà trước hết phải tạo được niềm tin. Khi khách hàng biết sản phẩm được chăm sóc bằng quy trình an toàn, không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và không có chất tạo màu, tạo hương, tạo vị trong chế biến, họ sẽ yên tâm hơn khi sử dụng lâu dài.
“Những sản phẩm mình làm ra phải tốt cho sức khỏe người tiêu dùng, từ đó tạo niềm tin và níu chân khách hàng sử dụng sản phẩm lâu dài”, ông Thuật nói.
Với cây chè, quá trình chuyển đổi sang hữu cơ cũng đồng nghĩa với việc HTX chấp nhận đi chậm hơn để hướng tới giá trị bền vững. Người trồng không chỉ tính toán sản lượng của một vụ mà phải tính đến sức khỏe của đất, chất lượng nguồn nước và khả năng duy trì vùng nguyên liệu trong nhiều năm.
Từ 15 ha chè sản xuất an toàn, trong đó có 5 ha đạt tiêu chuẩn hữu cơ, HTX chè Thủy Thuật đang từng bước xây dựng hướng đi riêng trong vùng chè Thái Nguyên. Đây cũng là cách để sản phẩm chè địa phương thích ứng với sự thay đổi của thị trường, khi người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến những sản phẩm sạch, minh bạch và thân thiện với môi trường.
Xã Đại Phúc đặt mục tiêu sản lượng chè búp tươi đến năm 2030 đạt 22.000 tấn, phấn đấu giá trị sản phẩm trên 1 ha đất trồng chè đến năm 2030 đạt trên 2 tỷ đồng/năm. Tổng giá trị thu được từ cây chè đạt 1.268 tỷ đồng vào năm 2030. Trong đó hướng tới sản phẩm chè thương hiệu chất lượng cao gắn với dịch vụ du lịch.
| # | Наименование новости | Тональность | Информативность | Дата публикации |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Nông nghiệp xanh nâng tầm chuỗi giá trị nông sản chủ lực Tây Bắc | 5 | 7 | 20-07-2026 |
| 2 | Dùng nước thông minh: [Bài 3] Giữ mùa lạc bằng công nghệ tưới tiết kiệm | 0 | 13.91 | 17-08-2026 |
| 3 | Khuyến nông 'lên rừng, xuống biển' hiện đại hóa nông nghiệp | 0 | 11.52 | 16-08-2026 |
| 4 | Nông dân bỏ ruộng và lời giải công cuộc tích tụ đất đai: [Bài 6] Cái khó ló cái khôn | 0 | 12.56 | 17-08-2026 |
| 5 | Cải tiến ngô nhờ phương pháp chọn giống chính xác | 0 | 11.52 | 17-08-2026 |
| 6 | Dân tập trung phản đối trại vịt 30.000 con gây ô nhiễm môi trường | 0 | 12.8 | 17-08-2026 |
| 7 | Bài 5: Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao: Mô hình phải 'sống' được bằng hiệu quả | 0 | 10.41 | 25-07-2026 |
| 8 | Vĩnh Long chủ động phòng dịch, bảo vệ vùng nuôi thủy sản | 0 | 14.72 | 17-08-2026 |
| 9 | Tri thức mở đường cho trái bưởi xuất khẩu | 0 | 11.34 | 17-08-2026 |
| 10 | [Infographic] - Sử dụng đất kết hợp đa mục đích | 0 | 7.03 | 17-08-2026 |